Thứ tư, 20/02/2019
Bệnh dịch tả lợn Châu Phi và biện pháp ứng phó.

1. Nguyên nhân gây bệnh:

Bệnh dịch tả lợn châu Phi là một bệnh truyền nhiễm rất dễ lây lan của lợn do 1 loại vi rút gây ra. Đây là một căn bệnh đã và đang gây thiệt nghiêm trọng ở nhiều nước Châu Phi và nhiều nước khác trên thế giới.

Đặc điểm của bệnh: Bệnh có thể gây ra quanh năm và ở lợn tất cả các giống, lứa tuổi khác nhau với các triệu chứng, bệnh tích lâm sàng gần giống với bệnh dịch tả lợn cổ điển. 

2. Sự nguy hiểm khi bệnh sảy ra:

- Virus này có nhiều chủng khác nhau với độc lực khác nhau và có thể gây ra bệnh cho tất cả các giống lợn ở tất cả các lứa tuổi khác nhau.

- Vi rút này có sức sống rất tốt ở trong cơ thể: lợn sau khi khỏi bệnh có thể mang trùng suốt đời và là nguồn reo rắc mầm bệnh chủ yếu; ngoài môi trường vi rút có khả năng tồn tại 3-4 tháng trong phân ẩm, 1-2 tháng trong nước tiểu; 70 ngày trong máu khô và 5-6 năm trong máu bảo quản lạnh; 4-5 tháng trong thịt lợn chưa qua chế biến. Thậm chí, vi rút còn có thể tồn tại trong các sản phẩm thịt lợn như thịt xúc xích, giăm bông…

Theo thông tin cập nhật từ Tổ chức Thú y thế giới (OIE), tính từ năm 2017 đến ngày 21.12.2018,bệnh đã sảy ra tại 19 quốc giatrên thế giớivớihơn 982 nghìn con lợn các loại buộc phải tiêu hủy.Riêng tại Trung Quốc, kể từ ngày đầu tiên phát hiện dịch (ngày 3.8.2018) đến ngày 21.12.2018, Trung Quốc thông báo tổng cộng có trên 95 ổ dịch xuất hiện tại 23 tỉnhvới trên trên 600.000 con lợn bị tiêu hủy

Tại nước ta, theo thông tin từ Bộ nông nghiệp, hiện nay đã sảy ra 8 ổ dịch tại 2 tỉnh Thái  Bình và Hưng Yên với tổng số 257 con lợn tại 8 hộ đã bị tiêu hủy.

Qua số liệu trên có thể thấy tính chất nguy hiểm nhất của bệnh dịch tả lợn Châu phi là khi lợn bị mắc bệnh tỷ lệ chết rất cao (có thể lên tới 100%). Đặc biệt, hiện nay chưa có thuốc, vắc xin phòng bệnh. Một khi bệnh sảy ra thì bắt buộc phải tiêu hủy.

3. Biện pháp ứng phó với bệnh dịch tả lợn Châu Phi:

Đối với người chăn nuôi: Để chủ động ứng phó với bệnh dịch tả lợn Châu Phi, ngăn chặn để bệnh không sảy ra chúng ta cần chủ động thực hiện tốt các biện pháp như sau:

- Chỉ chọn mua lợn giống ở những cơ sở giống an toàn dịch bệnh, đảm bảo không có bệnh. Con giống khi mua phải có nguồn gốc, lý lịch rõ ràng. Khimua giống ở địa bàn ngoài tỉnh phải được kiểm dịch của cơ quan thú y.

- Tuyệt đối không mua con giống trôi nổi trên thị trường. Không mua, bán lợn và các sản phẩm từ lợn nhập lậu, không rõ nguồn gốc.

- Lợn giống khi mua về cần tiến hành cách ly nuôi riêng, khi thấy đảm bảo an toàn mới tiến hành nuôi thả chung.

- Trong quá trình chăn nuôi, thực hiện tốt các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi gồm:

+ Thực hiện tốt biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng, cung cấp đầy đủ nguồn thức ăn, nước uống chất lượng tốt. Thường xuyên bổ sung các thuốc trợ sức trợ lực nhằm tăng sức đề kháng cho đàn lợn.

+ Chủ động dùng vắc xin (bệnh có vắc xin) tiêm phòng cho đàn lợn chưa tiêm phòng và tiêm phòng bổ sung cho những đàn sắp hết thời gian miễn dịch.

+ Hạn chế tối đa khách tham quan và người lạ ra vào chuồng trại, khu vực chăn nuôi, không để cho đàn lợn nuôi tiếp xúc với vật nuôi và động vật hoang dã khác.

+ Thực hiện tốt các biện pháp vệ sinh chuồng trại, máng ăn uống, dụng cụ chăn nuôi. Định kỳ dùng thuốc sát trùng để phu tiêu độc khử trùng toàn bộ chuồng trại, khu vực chăn nuôi, trang thiết bị, dụng cụ chăn nuôi.

- Khi có lợn ốm, chết cần nhanh chóng thông báo cho thú y cơ sở, chính quyền địa phương hoặc cơ quan chức năng để xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý kịp thời. Hiện nay, để ứng phó với bệnh này Bộ NNPTNT đã xây dựng dự thảo 2 phương án phòng chống dịch bệnh đối với dịch tả lợn Châu phi (ASF). Cụ thể như sau:

* Phương án dịch ASF trong phạm vi hẹp:

+ Bất kỳ tổ chức, cá nhân nào đều phải lấy mẫu gửi đến Phòng thí nghiệm (PTN) của Cục Thú y để xét nghiệm. Việc xét nghiệm được thực hiện tại ít nhất 2 PTN để bảo đảm tính chính xác, khách quan và có sự kiểm tra chéo.

+ Trong lúc chờ kết quả xét nghiệm ASF, đội phản ứng nhanh của Cục Thú y có trách nhiệm đến ngay địa phương nơi gửi mẫu để điều tra, nắm tình hình và hướng dẫn các biện pháp xử lý, phòng, chống dịch bệnh lây lan; phòng chống bán chạy.

+ Khi có kết quả xét nghiệm dương tính với bệnh ASFP, cấm điều trị lợn bệnh, lợn nghi mắc bệnh và lập tức thực hiện công tác tiêu hủy lợn bệnh.

+ Trường hợp 1 ổ dịch là hộ chăn nuôi, gia trại, cơ sở chăn nuôi nhỏ lẻ không có dãy chuồng riêng biệt hoặc chợ, điểm buôn bán lợn, sản phẩm lợn, cơ sở giết mổ lợn: Tiêu hủy toàn đàn trong vòng 24 giờ kể từ khi có kết quả xét nghiệm khẳng định dương tính với bệnh ASF.

+ Việc tiêu hủy cũng được áp dụng đối với các đàn lợn liền kề với đàn lợn dương tính nhưng chưa được lấy mẫu xét nghiệm. Tại vùng dịch, vùng bị dịch uy hiếp, trong vòng 48 giờ việc tiêu hủy được áp dụng với đàn lợn bị bệnh có triệu chứng lâm sàng của dịch ASF mà không nhất thiết phải chờ có kết quả xét nghiệm nhằm ngăn chặn dịch bệnh phát tán, lây lan diện rộng.

+ Đối với chăn nuôi trang trại số lượng lớn có nhiều dãy chuồng riêng biệt thì tiêu hủy toàn bộ lợn trong chuồng, dãy chuồng có lợn bệnh; các dãy chuồng còn lại áp dụng các biện pháp an toàn sinh học và lấy mẫu giám sát định kỳ. Nếu phát hiện dương tính hoặc xét thấy có nguy cơ lây nhiễm cao thì tiêu hủy toàn trang trại.

+ Đồng thời, tiến hành khoanh vùng ổ dịch, tiêu độc khử trùng, dừng vận chuyển lợn và các sản phẩm lợn...

* Phương án dịch bệnh trên diện rộng:

+ Khi có kết quả xét nghiệm dương tính với hộ bị dịch trong cùng một đơn vị cấp xã, đàn lợn các hộ chăn nuôi, trang trại còn lại trong cùng xã, nhóm xã, nhóm huyện và toàn tỉnh nếu có biểu hiện hiện triệu chứng điển hình của ASF có thể tiến hành các biện pháp tiêu hủy ngay không cần xét nghiệm.

+ Thực hiện các hành động như tiêu hủy, tăng cường tiêu độc khử trùng…, và chú trọng thêm các giải pháp: Khoanh vùng, xử lý ổ dịch, thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc liên tục 1 lần/ngày trong vòng 1 tuần đầu tiên; 3 lần/tuần trong 2-3 tuần tiếp theo.

+ Vùng bị dịch uy hiếp: Trong phạm vi 3km xung quanh ổ dịch, thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc liên tục 1 lần/ngày trong vòng 1 tuần đầu tiên; 3 lần/tuần trong 2-3 tuần tiếp theo.

+ Vùng đệm: Trong phạm vi 10km xung quanh ổ dịch, thực hiện việc tổng vệ sinh, khử trùng tiêu độc với tần suất 1 lần/tuần liên tục trong vòng 1 tháng kể từ khi có ổ dịch.

* Công bố dịch:

Thực hiện các thủ tục công bố dịch theo quy định tại Điều 26 của Luật Thú y. Theo đó, phân cấp cho Chủ tịch UBND cấp huyện; Chủ tịch UBND cấp tỉnh; Bộ trưởng Bộ NNPTNT công bố dịch khi có đủ điều kiện tương ứng theo quy định của Luật Thú y. Việc thành lập Ban chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch bệnh động vật được thực hiện theo Quyết định số 16/2016/QĐ-TTg ngày 29.4.2016 của Thủ tướng Chính phủ Quy định việc thành lập và tổ chức, hoạt động của BCĐ Phòng, chống dịch bệnh động vật các cấp.

Nguồn tin: BSTY: Lê Sỹ Thành - TTKN Thanh Hóa
In tin    Gửi email    Phản hồi    Lượt truy cập: 3654


Các tin khác:
 Khôi phục đàn gia súc, gia cầm sau dịp Tết nguyên đán. (20/02/2019)
 Một số kỹ thuật cần thiết trong quá trình chăm sóc và bảo vệ lúa vụ Xuân 2018-2019 giai đoạn sau khi cấy đến đẻ nhánh. (19/02/2019)
 Tăng cường các biện pháp trồng và chăm sóc rừng gỗ lớn. (19/02/2019)
 Làng hoa Đông Cương những ngày cận tết Nguyên Đán Kỷ Hợi 2019. (29/01/2019)
 Úm cho lợn con vào mùa đông. (23/01/2019)
 Biện pháp phòng chống đói, rét cho trâu bò. (23/01/2019)
 Một số biện pháp kỹ thuật phòng chống rét cho mạ và lúa mới cấy. (21/01/2019)
 Thanh Hóa: Hiệu quả mô hình liên kết hộ trong chăn nuôi gà tại xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân. (16/01/2019)
 Hiệu quả mô hình nuôi cá nheo Mỹ thương phẩm tại Thành phố Thanh Hóa. (16/01/2019)
 Thanh Hóa: Hiệu quả từ “Xây dựng mô hình sản xuất giống Nghêu (Meretrix lyrata)” theo quy mô hàng hóa. (19/12/2018)
    Đăng nhập
 
 
   
    Thăm dò ý kiến
Bạn đánh giá thế nào về website này?


    Văn bản phát hành
STTSố hiệuNgày ban hànhTrích yếuThể loạiTải về
1 . 212/TTr-SNN&PTNT 15/11/2019 Bãi bỏ một số nội dung quy định tại Điều 1, Quyết định số 5643/2015/QĐ-UBND ngày 31/12/2015 của UBND tỉnh về việc ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2016 - 2020 và Điều 1, Tờ trình
2 . 213/TTr-SNN&PTNT 15/11/2019 Ban hành Quy định các biện pháp triển khai thực hiện Nghị quyết số 192/2019/NQ-HĐND ngày 16 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng nhân dân tỉnh Thanh Hóa Tờ trình
3 . 4496/SNN&PTNT-KHTC 15/11/2019 Báo cáo tiến độ thực hiện, giải ngân và đề xuất điều chuyển, bổ sung kế hoạch vốn năm 2019 của các chương trình, dự án ODA do Sở Nông nghiệp và PTNT làm Chủ đầu tư Công văn
4 . 4492/SNN&PTNT-KHTC 15/11/2019 Tham gia ý kiến về chủ trương đầu tư dự án xây dựng các bến thủy nội địa (bến hành khách) tại các điểm công viên Hàm Rồng, chùa Sùng Nghiêm, Thiền viện Trúc Lâm, Phủ Vàng và Đền cô Bơ Công văn
5 . 4493/SNN&PTNT-PTNT 15/11/2019 Báo cáo đánh giá tình hình hoạt động của các HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Công văn
6 . 4491/SNN&PTNT-TL 15/11/2019 Xử lý sự cố các đập, hồ chứa thủy lợi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Công văn
7 . 4497/SNN&PTNT-VP 15/11/2019 Báo cáo tình hình triển khai thực hiện Chỉ thị số 16 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN 4.0 Công văn
8 . 87/TB-SNN&PTNT 15/11/2019 Thông báo kết quả kiểm tra công tác nghiệm thu đưa vào sử dụng công trình: Xử lý khẩn cấp Hồ Dung, xã Điền Hạ, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá. Thông báo
9 . 275/BC-SNN&PTNT 15/11/2019 Tiến độ sản xuất tuần 45, đến ngày 14/11/2019 Báo cáo
10 . 4485/SNN&PTNT-KHTC 15/11/2019 Công văn tham gia ý kiến vào dự thảo hướng dẫn lồng ghép các mục tiêu phát triển bền vững vào Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm của bộ, ngành và địa phương. Công văn
12345678910...
    Thông báo
    Chuyên mục
Bản quyền sử dụng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa

Trưởng ban biên tập: Đồng chí Lê Đức Giang - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
Địa chỉ: 49 Đại lộ Lê Lợi - Thành phố Thanh Hoá - Điện thoại:(0373) 851.118 - Fax: (0373) 850.281