Thứ hai, 10/09/2018
Phòng bệnh cho cá nuôi trong giai đoạn chuyển mùa

Môi trường nuôi trồng thuỷ sản là nước, vì vậy trong suốt quá trình nuôi nên phòng bệnh cho cá là tốt nhất. Khi cá bị bệnh, việc điều trị rất khó khăn, tốn kém, hiệu quả không cao.

Giai đoạn chuyển mùa đông - xuân, thu - đông các đối tượng nuôi thủy sản thường hay mắc bệnh gây tổn thất cho người nuôi. Tuy nhiên nếu người nuôi tuân thủ tốt một số yếu cầu kỹ thuật sau đây sẽ góp phần hạn chế tối đa thiệt hại có thể xảy ra do các bệnh.

1.  Những nguyên nhân gây bệnh:

- Chất lượng nước bị thay đổi: Nhiệt độ nước thay đổi đột ngột vào tháng 12 đến tháng 2 (có thể xuống thấp đến 18 - 220C) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 3 đến tháng 6 (lên đến 30 - 380C), nhiệt độ ban ngày và ban đêm có sự chênh lệch lớn từ 7 - 100C làm cho cá sốc bỏ ăn, suy yếu, tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh phát triển, làm cho cá dễ bị bệnh.

- Nước ao kém chất lượng do quản lý không đúng kỹ thuật hoặc nguồn nước cấp bị ô nhiễm hóa chất độc, vi khuẩn, vi rút.

- Sau mỗi đợt nắng nóng xen kẽ là các đợt mưa dẫn đến nhiệt độ nước giảm  đột ngột, pH giảm, tảo chết phân hủy gây thiếu oxy tầng đáy, tạo khí độc H2S, NH3… làm cá nổi đầu, nếu không được xử lý kịp thời dẫn đến cá chết hàng loạt.

- Chất lượng thức ăn kém: Chất lượng thức ăn kém, không đủ dinh dưỡng cho cá sẽ tạo môi trường thuận lợi cho các tác nhân gây bệnh phát triển và làm ô nhiễm nước ao.

- Nguồn giống thả kém chất lượng: Cá có thể đã bị nhiễm bệnh từ nguồn giống thả nuôi chưa được kiểm tra chất lượng, mang sẵn mầm bệnh mà chưa được xử lý diệt trùng, khi thả cá xuống nuôi gặp thời tiết thay đổi sẽ dễ bị nhiễm bệnh.

2. Phòng bệnh tổng hợp cho cá:

- Vệ sinh ao đầm sạch sẽ trước mỗi vụ nuôi:  Dọn sạch cỏ; vét bùn đáy ao; lấp các lỗ xung quanh bờ ao; bón vôi để tiêu diệt mầm bệnh, ổn định pH và diệt tạp.

- Chọn loài cá nuôi phù hợp:  Hiện nay có rất nhiều loại cá nuôi. Để chọn được loài cá nuôi thích hợp, cần căn cứ vào điều kiện từng vùng sinh thái khác nhau, nhu cầu của thị trường và khả năng đầu tư của hộ chăn nuôi.

- Chất lượng con giống:  Chọn giống tốt, không mang mầm bệnh, cá tương đối đều cỡ, mầu sắc sáng đẹp, bơi lội nhanh nhẹn, phản ứng nhanh, không bị dị hình, trầy sước, nên mua giống ở những nơi uy tín… Trước khi thả giống cần tắm cá giống qua nước muối 2 - 3 % trong 5 - 10 phút để sát trùng.

- Mật độ thả thích hợp:  Nên thả đúng mật độ tùy theo từng loài cá: Nhóm cá không có cơ quan hô hấp phụ (rô phi, mè hoa, trắm cỏ, chép…) thả với mật độ dưới 3 - 4 con/m2; nhóm cá có cơ quan hô hấp phụ (tra, trê, rô đồng…) thả với mật độ 5 - 10 con/m2. Thả cá đúng mật độ để cá lớn nhanh lớn đều, ít bệnh, rút ngắn được thời gian nuôi.

- Nuôi ghép:  Trong cùng một ao có thể nuôi ghép các loại cá với nhau để tận dụng không gian mặt nước và các loại thức ăn có trong ao vì mỗi một loại cá sống ở một tầng nước và sử dụng thức ăn khác nhau.

- Chăm sóc đúng kỹ thuật, cho ăn theo 4 định:  Định lượng, định chất, định vị trí, định thời gian để đảm bảo cho cá khỏe mạnh, ít nhiễm bệnh. Nếu thức ăn là thức ăn tự chế thì nên để vào sàng cho cá ăn để dễ quản lý được thức ăn.

- Quản lý môi trường ao nuôi: Nên các chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi, hạn chế thay nước khi nguồn nước xấu. Bổ sung các trang thiết bị như: Máy quạt nước, xục khí, máy chế biến thức ăn…..

Tranh thủ những ngày nắng ấm nhiệt độ trên 180C cho cá ăn tích cực đủ về lượng, đảm bảo về chất, bổ sung Vitamin C để tăng cường sức đề kháng của cá, thường xuyên cấp nước mới vào ao để tăng cường oxy và không gian sống của cá. Định kỳ 2 tuần/lần dùng vôi bột té đều khắp mặt ao với lượng 2 - 3 kg/100m3 nước.

3. Trị một số bệnh cho cá lúc giao mùa:

Một số bệnh thường gặp là bệnh đốm đỏ, bệnh đường ruột, bệnh nấm thủy my, bệnh trùng mỏ neo…

Bệnh đốm đỏXuất hiện quanh năm, thường tập trung vào cuối mùa xuân, đầu mùa hè (tháng 3 - 5) mùa thu (tháng 8 - 10) khi nhiệt độ nước 25 - 300C. Biểu hiện cá kém ăn hoặc bỏ ăn, bơi lờ đờ trên tầng mặt, da cá tối màu, cá mất nhớt thô ráp, xuất hiện các vết loét ăn sâu vào cơ thể, mắt lồi, hậu môn viêm xuất huyết, bụng có thể chướng to, các vây xơ rách, các vây tia cụt dần, thường gặp ở cá trắm cỏ. Tỷ lệ chết từ 30 - 70%.

+ Phòng trị bệnh:

- Cải thiện môi trường nuôi bằng vôi bột 2 kg/100m3, 2 tuần bón 1 lần.

        - Nuôi cá bằng thức ăn tốt giúp cá tăng trưởng nhanh, khoẻ mạnh chống lại bệnh. Cung cấp thêm lượng Vitamin C tăng sức đề kháng cho cơ thể 30gam/100kg cá/ngày.

 - Dùng thuốc KN-04-12 cho ăn 3 ngày liên tục trước mùa phát bệnh, liều lượng 200gam/60-100kg cá/ngày trộn với thức ăn tinh đã nấu chín để nguội. Trị bệnh cho ăn 6-10 ngày liên tục.

       - Khi cá có dấu hiệu bị bệnh cần thay 50% nước bằng nước sạch, vệ sinh xung quanh ao nuôi. Xử lý nước bằng Vạn tiêu linh 0.3- 0.4 g/m3. Trộn thuốc kháng sinh vào thức ăn cho cá liên tục trong 7 ngày theo liều 250 g Desery + 50 ml Vime-Fenfish 2000 cho 1 tấn cá, hoặc Tiên đắc 1 50g/50kg cá, cho ăn 3 ngày liên tục.

        - Có thể dùng kháng sinh Chlotetacyelin trộn vào thức ăn cho cá ăn liên tục trong 7 ngày, 3 ngày đầu cho ăn 50mg thuốc/1kg cá, 4 ngày tiếp giảm 1/2 lượng thuốc. Nếu không cho ăn được có thể dùng Chloramphenicol hoặc Chlotetacyelin nồng độ từ 30-100ml/m3  tắm cho cá 1h/ngày liên tục trong 3 ngày, ngoài ra có thể tắm trực tiếp ca trong dung dịch Chloramphenicol hoặc Chlotetacyelin nồng độ 5-10/m3.

Bệnh xuất huyết do vi rút:Xuất hiện quanh năm. Biểu hiện: đại bộ phận da cá xuất huyết, vẩy rụng, gốc vây bụng, ngực, vây lưng, các tia vây rách nát cụt dần, có lúc ruột xuất huyết, lỗ hậu môn bị xuất huyết. Bệnh nặng cá cắm đầu xuống dưới, đuôi lên trên thành vuông góc với mặt nước, cá nhanh chóng chết hàng loạt. Phòng bệnh như bệnh đốm đỏ.

Bệnh nấm Thủy my:  Bệnh xuất hiện ở những ao tù đọng, có nhiều mùn bã hữu cơ, nuôi mật độ dày. Bệnh thường xảy ra vào mùa mưa và thời tiết lạnh khi nhiệt độ xuống thấp (18 – 200C), đặc biệt khi cá bị xây xát (do đánh bắt hoặc vận chuyển) hoặc do viêm nhiễm ngoài da (do bệnh ghẻ lở hoặc do ký sinh trùng ký sinh).

- Dấu hiệu bệnh lý : khi cá bị nấm thủy mi ký sinh, trên da cá xuất hiện vùng trắng xám tua tủa những sợi nấm nhỏ, mềm tạo thành những búi trắng như bông có thể nhìn thấy bằng mắt thường (để cá bệnh trong nước dễ quan sát hơn).

- Cách phòng trị : Ao nuôi phải được tẩy dọn kỹ sau mỗi vụ nuôi. Tắm cá bằng nước muối 2-3% trong 5-10 phút trước khi thả xuống ao.

- Khi cá bị bệnh dùng muối ăn liều lượng 2 - 3 kg/m3 nước tắm cá trong 24 giờ, tắm cá liên tục trong 3 - 5 ngày.

- Bệnh trùng mỏ neo:  xuất hiện quanh năm. Cá bơi lội không bình thường, khả năng bắt mồi giảm. Trùng hút dinh dưỡng nên cá gầy yếu. Phòng bệnh: Giữ nước ao sạch sẽ không dùng nguồn nước ở các ao bị bệnh đưa vào ao nuôi. Dùng lá xoan bón lót xuống ao trước khi thả cá với liều lượng 0,2 - 0,3 kg/m3nước để diệt trùng mỏ neo có trong ao.

Nguồn tin: Hoàng Thị Thu Hằng - TTKN Thanh Hóa
In tin    Gửi email    Phản hồi    Lượt truy cập: 2797


Các tin khác:
 Sản xuất lúa theo hướng hữu cơ giúp nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả (07/08/2018)
 Cách dùng Oxytocin trên lợn nái đẻ (07/08/2018)
 Một số lưu ý khi làm vacxin cho gia cầm qua đường uống (07/08/2018)
 Đôi điều về thực phẩm hữu cơ (07/08/2018)
 Một số biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi (07/08/2018)
 Hiệu quả mô hình phát triển sản xuất giống dưa lê Kim Hoàng Hậu theo phương pháp sử dụng màng phủ nông nghiệp (07/08/2018)
 Bệnh đầu đen trên gà thả vườn (07/08/2018)
 Một số biện pháp khắc phục hậu quả sau mưa lũ trong chăn nuôi (26/07/2018)
 Biện pháp khắc phục cho cây trồng bị ngập lụt sau mưa bão (20/07/2018)
 Một số lưu ý trong phòng chống dịch bệnh cho đàn vật nuôi mùa mưa bão (19/07/2018)
    Đăng nhập
 
 
   
    Thăm dò ý kiến
Bạn đánh giá thế nào về website này?


    Văn bản phát hành
STTSố hiệuNgày ban hànhTrích yếuThể loạiTải về
1 . 201/TTR-SNN&PTNT 16/10/2019 Tham quan, học tập kinh nghiệm các mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với tích tụ, tập trung đất đai, sản xuất hàng hóa quy mô lớn Tờ trình
2 . 4037/SNN&PTNT-BVTV 16/10/2019 Xác nhận nội dung hội thảo phân bón Công văn
3 . 4038/SNN&PTNT-KHTC 16/10/2019 Báo cáo kết quả triển khai thực hiện nội dung hợp tác giữa hai tỉnh Quảng Nam và Thanh Hóa 9 tháng năm 2019 Công văn
4 . 4038/SNN&PTNT-TT 16/10/2019 Tham gia ý kiến về việc phân loại cây trồng Công văn
5 . 4036/SNN&PTNT-QLCL 16/10/2019 Hợp tác sản xuất muối sạch với diêm dân trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Công văn
6 . 97/GM-SNN&PTNT 16/10/2019 Hội nghị trao đổi kinh nghiệm thực hiện Bộ tiêu chí giám sát và đánh giá tái cơ cấu lại ngành nông nghiệp tỉnh Thanh Hóa Giấy mời
7 . 4031/SNN&PTNT-KHTC 16/10/2019 Tham gia ý kiến về đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Khu dịch vụ thương mại tổng hợp An Hưng tại phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa của Hộ kinh doanh Nguyễn Ngọc Hưng Công văn
8 . 4031/SNN&PTNT-KHTC 16/10/2019 Tham gia ý kiến về đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư dự án Khu dịch vụ thương mại tổng hợp An Hưng tại phường Đông Cương, thành phố Thanh Hóa của Hộ kinh doanh Nguyễn Ngọc Hưng Công văn
9 . 4034/SNN&PTNT-QLCL 16/10/2019 Báo cáo kết quả triển khai thực hiện phần mềm hệ thống thông tin quản lý nhà nước về ATTP và cấp tài khoản đăng nhập, tài khoản người quản lý phần mềm kết nối cung cầu nông sản, thực phẩm an toàn tỉnh Thanh Hóa. Công văn
10 . 4033/SNN&PTNT-QLCL 16/10/2019 Đôn đốc triển khai thực hiện phần mềm hệ thống thông tin quản lý nhà nước về ATTP và cấp tài khoản đăng nhập, tài khoản người quản lý phần mềm kết nối cung cầu nông sản, thực phẩm an toàn tỉnh Thanh Hóa. Công văn
12345678910...
    Thông báo
    Chuyên mục
Bản quyền sử dụng: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa

Trưởng ban biên tập: Đồng chí Lê Đức Giang - Giám đốc Sở Nông nghiệp & PTNT
Địa chỉ: 49 Đại lộ Lê Lợi - Thành phố Thanh Hoá - Điện thoại:(0373) 851.118 - Fax: (0373) 850.281